Thông tin chung

 

LƯỢT NGƯỜI TRUY CẬP
13853450
Diễn đàn pháp luật
VIỆC HỦY QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG CƠ QUAN, TỔ CHỨC THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015( Bộ luật TTDS 2015) khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng quy định này( Đỗ Khắc Tuấn-TANDTP.HCM).

1.     Quyết định cá biệt phải là quyết định hành chính

Bộ luật TTDS 2015 không quy định rõ quyết định cá biệt phải là quyết định hành chính nhưng căn cứ vào tính chất đặc trưng của quyết định hành chính và quy định của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, chúng ta phải hiểu quyết định cá biệt phải là quyết định hành chính[1], bởi lẽ:
Thứ nhất, quyết định hành chính là quyết định mang tính mệnh lệnh, bắt buộc thi hành của chủ thể quản lý đối với các chủ thể bị quản lý, là sự thể hiện của quan hệ không bình đẳng giữa các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước đối với các chủ thể bị quản lý. Việc trao cho Tòa án quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được xem là một một biện pháp để khắc phục các vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị quản lý phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước[2].
Thứ hai, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mà Bộ luật TTDS 2015 quy định sẽ được áp dụng để xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án là thẩm quyền giải quyết của Tòa án các cấp đối với quyết định hành chính[3].
Có thể đơn cử một số quyết định cá biệt như: Thông báo thuế; Quyết định thu hồi đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất; Giấy phép xây dựng…
Có một số quyết định có dấu hiệu của một quyết định hành chính nhưng không được xem là quyết định hành chính hoặc pháp luật có quy định khác nên không áp dụng quy định về việc xem xét hủy quyết định cá biệt theo thủ tục tố tụng dân sự như: Quyết định cá biệt của cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan thi hành án hình sự để tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án[4]; quyết định cá biệt của Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ hoặc tương đương trở lên[5].
Hiện đang có những quan điểm khác nhau về việc có coi giấy chứng nhận kết hôn là quyết định hành chính cá biệt và áp dụng quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp theo thủ tục tố tụng hành chính để giải quyết yêu cầu việc kết hôn trái pháp luật hay không? Theo ý kiến của người viết, pháp luật về hôn nhân gia đình có quy định một số trường hợp phải thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn[6] nhưng trong đó không có quy định việc Tòa án phải hủy giấy chứng nhận đăng ký kết hôn khi hủy việc kết hôn trái pháp luật. Do đó, khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật Tòa án không phải áp dụng quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp theo thủ tục tố tụng hành chính.
2.     Vụ việc dân sự mà Tòa án giải quyết phải liên quan đến quyết định cá biệt
          Theo quy định tại Khoản 2, Điều 34 Bộ luật TTDS thì trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó. Như vậy điều kiện để áp dụng quy định về hủy quyết định cá biệt theo thủ tục tố tụng dân sự là vụ việc mà Tòa án đang giải quyết phải có liên quan đến quyết định cá biệt. Sự liên quan này có thể thuộc một hoặc nhiều trường hợp sau:
          Một là, việc giải quyết của Tòa án có thể dẫn tới việc phải hủy quyết định cá biệt. Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất với bị đơn nhưng bị đơn đã đăng ký việc chuyển nhượng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn mà nguyên đơn cho rằng thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nhưng bị đơn lại có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp.
          Hai là, các đương sự tranh chấp với nhau về việc giải quyết các hậu quả của quyết định hành chính hoặc hoặc các trường hợp khác khi có các dấu hiệu thể hiện quyết định cá biệt là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Ví dụ: Tranh chấp với nhau về việc xử lý hậu quả của việc chuyển nhượng khi Ủy ban nhân dân có quyết định thu hồi phần đất mà các bên đang chuyển nhượng hoặc tranh chấp về việc hưởng số tiền mà Ủy ban nhân dân đã có quyết định bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi có các dấu hiệu thể hiện quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
3.     Thẩm quyền giải quyết của Tòa án các cấp đối với quyết định cá biệt
        Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt được xác định theo quy định tương ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cụ thể:
        Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đối với các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trong cùng địa giới hành chính với Tòa án đó[7]. Trường hợp đó là quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện thì Tòa án cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết nếu việc xem xét việc hủy quyết định cá biệt đó được thụ lý trước ngày 01/7/2016. Nếu việc xem xét việc hủy quyết định cá biệt đó được thụ lý từ ngày 01/7/2016 trở về sau thì thẩm quyền giải quyết là của Tòa án cấp tỉnh cùng phạm vi địa giới hành chính với Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện đó[8].
          Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự dân sự đối với các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức cấp tỉnh trong cùng địa giới hành chính với Tòa án đó hoặc các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức cấp trung ương mà đương sự liên quan[9] có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với Tòa án đó. Trường hợp các quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức cấp trung ương mà đương sự liên quan không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp tỉnh cùng địa giới hành chính với cơ quan, người có thẩm quyền đã ra quyết định cá biệt. Trường hợp đương sự liên quan và cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đều không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở ở Việt Nam thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là là Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh[10].
4.     Về việc tham gia tố tụng của đại diện cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định cá biệt
Theo quy định của Luật TTHC 2015 quy định nếu quyết định hành chính, hành vi hành chính bị yêu cầu hủy là của cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức không trực tiếp tham gia tố tụng thì chỉ có quyền ủy quyền cho cấp phó của mình tham gia tố tụng nhưng thủ tục TTDS không có quy định trong trường hợp Tòa án xem xét việc hủy quyết hủy quyết định cá biệt của cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức cùng với việc giải quyết vụ án dân sự nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức không trực tiếp tham gia tố tụng thì chỉ có quyền ủy quyền cho cấp phó của mình tham gia tố tụng. Do đó, trong trường hợp này người đứng đầu cơ quan, tổ chức nên trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho cấp phó của mình trực tiếp tham gia tố tụng nhưng nếu họ vẫn ủy quyền cho người không phải là cấp phó của mình tham gia tố tụng thì Tòa án vẫn phải chấp nhận việc ủy quyền này.
Việc xác định vụ việc dân sự có thuộc trường hợp phải xem xét hủy bỏ quyết định cá biệt hay không có thể làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án và phát sinh thêm các đương sự mà Tòa án cần phải triệu tập tham gia tố tụng. Trước đây, theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2004( đã sửa đổi bổ sung năm 2011) thì Tòa án chỉ xem xét việc hủy quyết định cá biệt nếu có yêu cầu của đương sự[11] nhưng theo quy định của Bộ luật TTDS 2015 thì Tòa án phải xem xét việc hủy quyết định cá biệt mà không cần đương sự phải có yêu cầu. Do đó, khi giải quyết các vụ việc dân sự, các thẩm phán cần phải nghiên cứu và cẩn trọng trong việc áp dụng pháp luật để xác định chính xác vụ việc phải xem xét hủy quyết định cá biệt, từ đó xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án và những người mà Tòa án cần phải thông báo, triệu tập họ vào tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
 
 
 
 


[1] Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật TTHC thìQuyết định hành chínhlà văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.”;
[2] Theo ý kiến của tác giả bởi lý do này nên khi xem xét việc hủy quyết định cá biệt có liên quan đến tranh chấp dân sự thì đương sự không cần phải có yêu cầu và Tòa án cũng không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với quyết định này.
[3] Luật TTHC còn quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án các cấp về khiếu kiện đối với một số quyết định cá biệt khác như quyết định buộc thôi việc công chức và quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, trong đó quyết định buộc thôi việc công chức là quyết định được ban hành trong quan hệ lao động của công chức, một quan hệ mang tính đặc thù và không thể liên quan đến tranh chấp dân sự. Riêng quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh xét về mặt bản chất cũng là một loại quyết định hành chính( tham khảo Điều 3 và các điều 30, 31, 32 Luật TTHC 2015);
[4] Tham khảo Văn bản trao đổi nghiệp vụ số 220/TANDTC-HC ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân tối cao;
[5] Với quy định tại các điều 31 và 32 Luật TTHC 2015 về thẩm quyền giải quyết của Tòa án các cấp thì Tòa án không có thẩm quyền xem xét đối với quyết định cá biệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủhoặc tương đương trở lên;
[6] Tham khảo Điều 13 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
[7] Tham khảo Điều 31Luật TTHC 2015;
[8] Tham khảo Khoản 4, Điều 32 Luật TTHC 2015 và Khoản 5 Điều 1 Nghị quyết sô 104/2015/NQ-QH13 ngày 25/11/2016 về thi hành Luật TTHC;
[9] Quyết định cá biệt có dấu hiệu xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nào thì đương sự đó là đương sự liên quan đến quyết định cá biệt đó;
[10] Tham khảo Điều 32Luật TTHC 2015;
[11] Khoản 2, Điều 32aBộ luật TTDS năm 2004 đã sửa đổi bổ sung năm 2011;
CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông báo
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 TP.HCM QUYẾT ĐỊNH THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ CHẾT ĐỐI VỚI ÔNG DƯƠNG HOÀNG DIỆU, SINH NĂM 1963
  TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.HCM QUYẾT ĐỊNH TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT ĐỐI VỚI BÀ TRẦN THỊ NGA, SINH NĂM 1956
video clip

The player will show in this paragraph

  

Hình ảnh hoạt động