Thông tin chung

 

LƯỢT NGƯỜI TRUY CẬP
13808259
Diễn đàn pháp luật
BÀN VỀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI ĐIỀU 39.

Tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án qua sự thỏa thuận của các đương sự. Từ quy định này đã phát sinh những bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn công tác xét xử.(Nguyễn Tấn Chinh – Tòa án nhân dân Quận 10)

    Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

    1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

    a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30, và 32 của Bộ luật này;

    b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30, và 32 của Bộ luật này;

   …

    Như vậy theo những quy định trên thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được quy định rất cụ thể, rõ ràng

    Một là, nơi cư trú, làm việc của bị đơn. Được hiểu nếu không xác định được nơi cư trú của bị đơn thì có thể khởi kiện nơi bị đơn làm việc (trên thực tiễn công tác thụ lý hồ sơ Tòa án không chấp nhận nguyên đơn cùng lúc khởi kiện bị đơn vừa tại nơi cư trú vừa tại nơi làm việc). Đối với bị đơn là pháp nhân thì là nơi có trụ sở.

    Hai là, các đương sự có thể thỏa thuận với nhau bằng văn bản về Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra là nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở nếu nguyên đơn là pháp nhân. Được hiểu giữa các đương sự phải có sự thỏa thuận trước với nhau bằng văn bản thì được coi là hợp lệ và được chấp nhận thẩm quyền Tòa án giải quyết tranh chấp nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở nếu nguyên đơn là pháp nhân.

   Từ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu trên đã gặp rất nhiều khó khăn về thời gian, công sức trong thực tiễn công tác công tác thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết xét xử đối với các vụ án dân sự nói chung và vụ án kinh doanh, thương mại nói riêng. Ví dụ “…Ngân hàng N có trụ sở tại Quận M khởi kiện doanh nghiệp A có trụ sở tại Quận H để đòi khoản nợ 100 tỉ đồng theo hợp đồng tín dụng mà đôi bên đã ký kết với nhau kèm tài sản thế chấp là các bất động sản tại Quận H….(do đôi bên có văn bản từ trước thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở giải quyết)” Quá trình thụ lý vụ án, bị đơn không đến Tòa, không hợp tác. Để giải quyết được vụ án, Tòa án phải tiến hành các thủ tục xác minh tại địa phương, tại cơ quan nhà đất để biết được nhà đất thế chấp đó hiện giờ có mua bán, cầm cố, thế chấp, cho thuê hay không (trường hợp hiện hữu có mua bán, cầm cố, thế chấp, cho thuê…thì phải đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án). Rồi phải tiến hành các thủ tục niêm yết, tống đạt để xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Trong khi đó thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án kinh doanh, thương mại lại quá ngắn (điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh, thương mại là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Có tính chất phức tạp thì được ra hạn nhưng không quá 02 tháng). Với khoảng thời gian trên mà lại cách trở về địa bàn, địa giới hành chính thì không thể giải quyết vụ án trong thời hạn luật định. Nguyên đơn là người khởi kiện, là người hợp tác, chấp hành tốt các quy định về thủ tục tố tụng tại Tòa án thì lại ở ngay trên địa bàn Tòa án thụ lý vụ án. Trong khi đó bị đơn là người bị kiện và số đông lại là những người tham gia gia tố tụng không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án thì lại cư trú ở địa bàn khác nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.    

    Do vậy, kiến nghị nên bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án theo sự thỏa thuận lựa chọn của đương sự, bởi tại điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự về Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu cũng đã có quy định mở  “Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết”. Như vậy sẽ phù hợp hơn, vì chỉ khi không đủ điều kiện ở điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì hãy để các bên lựa chọn ở những quy định tiếp theo, còn quy định như hiện hành đủ điều kiện ở điểm a, nhưng lại cho lựa chọn ở quy định kế tiếp, trong khi quy định kế tiếp thì lại gặp quá nhiều trở ngại, chưa kể có sự chồng chéo lên nhau không hợp lý, không thuận lợi, để thực thi công việc đạt được kết quả tốt nhất.

    Trên đây là một số ý kiến về vướng mắc, khó khăn trong công việc, mong nhận được sự chia sẻ từ đồng nghiệp và những người quan tâm

 

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông báo
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 TP.HCM QUYẾT ĐỊNH THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ CHẾT ĐỐI VỚI ÔNG DƯƠNG HOÀNG DIỆU, SINH NĂM 1963
  TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.HCM QUYẾT ĐỊNH TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT ĐỐI VỚI BÀ TRẦN THỊ NGA, SINH NĂM 1956
video clip

The player will show in this paragraph

  

Hình ảnh hoạt động