Thông tin chung

 

LƯỢT NGƯỜI TRUY CẬP
11893694
Diễn đàn pháp luật
MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ XÓA ÁN TÍCH THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017

Án tích là một trong các hình thức của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với chủ thể thực hiện tội phạm. Do đó, nếu được xóa án tích thì cũng đồng nghĩa trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của chủ thể đó đã chấm dứt. Xóa án tích là một chế định thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam, khuyến khích người phạm tội tuân thủ pháp luật sau khi chấp hành xong bản án, tạo điều kiện cho người phạm tội làm lại cuộc đời, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng. Điểm nổi bật của BLHS năm 2015 là đã mở rộng phạm vi chủ thể thực hiện tội phạm, nghĩa là chủ thể thực hiện tội phạm ngoài cá nhân (con người) phạm tội thì còn pháp nhân thương mại phạm tội. Do dó, những quy định về xóa án tích của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 cũng có rất nhiều thay đổi theo. Bài viết này tác giả tập trung đưa ra những điểm mới của BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại và đưa ra một số kiến nghị hoàn hiện.Đặng Văn Quyết - TAND Q10

1. Những điểm mới về xóa án tích đối với người phạm tội.

Một là, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định các trường hợp không có án tích, đó là: Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích (khoản 2 Điều 69); người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 1 Điều 107); người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý (khoản 1 Điều 107); người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII của BLHS (khoản 1 Điều 107). Như vậy, theo quy định BLHS năm 2015 thì có 04 trường hợp người phạm tội được coi là không có án tích. So sánh với BLHS năm 1999 thì không có điều luật nào quy định các trường hợp không có án tích mà chỉ có quy định trường hợp người bị kết án được miễn hình phạt thì đương nhiên được xóa án tích (khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999). Trong khi đó, người bị kết án “không có án tích” và “đương nhiên được xóa án tích” là hai trường hợp có hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau. Trường hợp “không có án tích” là trường hợp người phạm tội sau khi chấp hành xong bản án thì cũng xem như đã chấp hành xong trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Còn trường hợp “đương nhiên được xóa án tích” thì bản chất người phạm tội vẫn có án tích nhưng thuộc các trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo luật định. Do đó, quy định của BLHS năm 2015 đã mở rộng hơn các trường hợp người bị kết án mà không có án tích là rất có lợi cho người bị kết án, phù hợp nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.

Riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì BLHS năm 2015 chỉ ghi nhận 01 trường hợp duy nhất bị xem là có án tích, đó là: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 107 BLHS). Như vậy, khi người dưới 18 tuổi phạm tội không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 thì đương nhiên được xem là không có án tích. Quy định của BLHS năm 2015 là rất có lợi cho người phạm tội so với những quy định của BLHS năm 1999.

Hai là, về thời hạn xóa án tích. So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định về thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích (Điều 70 BLHS) và xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71 BLHS) theo hướng rút ngắn thời hạn xóa án tích, có lợi hơn cho người phạm tội. Cụ thể là: tại khoản 3 Điều 70 BLHS năm 2015 quy định về thời hạn đương nhiên được xóa án tích là 01 năm trong trường hợp phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo; 02 năm trong trường hợp hình phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng được giảm án. Trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án tại khoản 2 Điều 71 BLHS năm 2015: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Như vậy, để xác định thời hạn xóa án tích thì theo quy định của BLHS năm 2015 phải căn cứ hình phạt chính mà Tòa án đã tuyên.

Tác giả nhận thấy rằng quy định này của BLHS năm 2015 chỉ được xác định rõ trong trường hợp chỉ có một hành vi phạm tội, khi đó dựa vào hình phạt chính của tội này để xác định thời hạn xóa án tích tương ứng theo quy định. Tuy nhiên, trong trường hợp, người phạm tội phạm nhiều tội hoặc trường hợp người phạm tội có nhiều bản án lại thì khi tuyên án Tòa án phải tiến hành tổng hợp bản án theo quy định. Khi đó, thời hạn xóa án tích trong trường hợp này phải căn cứ vào hình phạt chính của từng tội hay là căn cứ vào hình phạt chính sau khi tổng hợp của nhiều tội hoặc nhiều bản án. Điều này chưa được quy định trong BLHS năm 2015, dẫn đến hậu quả thực tiễn tính thời hạn xóa án tích áp dụng cho người phạm tội sẽ không thống nhất và đồng bộ.

Ba là, về thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích. Theo BLHS năm 1999 thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn xoá án tích là kể từ khi người phạm tội chấp hành xong bản án còn theo BLHS năm 2015 thì thời điểm xoá án tích được tính kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện kèm theo, cụ thể là: tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 quy định: “Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây…”. Điều này có nghĩa là, thời điểm để tính thời hạn xóa án tích kể từ khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính và người phạm tội chỉ được xóa án tích khi đáp ứng điều kiện kèm theo đó là: chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn nêu trên. Như vậy, so với BLHS năm 1999 thì để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích thì người phạm tội phải chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí,…), trong khi đó, BLHS năm 2015 quy định thời điểm tính xóa án tích cho người phạm tội kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, còn hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án chỉ là điều kiện đi kèm theo buộc người phạm tội thực hiện để được xóa án tích. Đây là một quy định có lợi hơn cho người phạm tội, một điểm mới nổi bật của BLHS năm 2015 về xóa án tích.

Bốn là, BLHS năm 2015 đã thay đổi thủ tục xóa án tích theo hướng thuận lợi hơn cho người bị kết án thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Cụ thể là, tại khoản 4 Điều 70 BLHS 2015 quy định thì Toà án sẽ không cấp giấy chứng nhận xoá án tích trong trường hợp đương nhiên được xoá án tích mà cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích.

2. Những điểm mới về xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội

BLHS năm 2015 lần đầu quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm nên đây cũng là lần đầu tiên BLHS năm 2015 quy định vấn đề xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Theo quy định tại Điều 89 BLHS năm 2015: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Như vậy, theo quy định của BLHS năm 2015 thì thời hạn xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án trong mọi trường hợp đều là 02 năm, không phân biệt là loại hình phạt chính và mức hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Bên cạnh đó, thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích đối với pháp nhân thương mại được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án. Như vậy, theo quy định của BLHS năm 2015 thì thời điểm tính thời hạn để xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án. Quy định thời điểm này rõ ràng là bất lợi hơn so với quy định về thời điểm bắt đầu tính xóa án tích đối với cá nhân phạm tội như tác giả phân tích nêu trên.

Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng quy định xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội còn vướng mắc, cụ thể là trong khi tại Điều 89 BLHS năm 2015 quy định thời hạn xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội là 2 năm và không phụ thuộc vào hình phạt chính áp dụng. Tuy nhiên, theo quy định của BLHS năm 2015 thì hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm 3 loại hình phạt: phạt tiền (Điều 77), đình chỉ hoạt động có thời hạn (Điều 78) và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 79). Trong đó, hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân, có nghĩa là loại hình phạt không cho phép pháp nhân tiếp tục tồn tại để hoạt động. Do đó, tại Điều 89 BLHS năm 2015 quy định về tính thời hạn xóa án tích khi pháp nhân thương mại chấp hành xong hình phạt chính nhưng không loại trừ trường hợp pháp nhân thương mại bị áp dụng loại hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, là không hợp lý. Vì khi pháp nhân thương mại bị áp dụng loại hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì việc xác định thời hạn xóa án tích không có ý nghĩa gì trong việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân đó.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về xóa án tích của BLHS năm 2015.

Từ nội dung tác giả phân tích những điểm mới của BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với cá nhân phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội nêu trên. Tác giả nhận thấy rằng, những điểm mới về xóa án tích của BLHS năm 2015 bên cạnh những điểm tiến bộ có lợi cho chủ thể thực hiện tội phạm thì BLHS năm 2015 vẫn chưa hoàn thiện một số bất cập trong quá trình quy định mà tác giả phân tích nêu trên. Để đạt hiệu quả cao về lý luận và thực tiễn áp dụng khi quy định về xóa án tích của BLHS năm 2015 thì tác giả đề xuất hoàn thiện những vấn đề sau:

Một là, tác giả cho rằng trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội rõ ràng là nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm một tội. Do đó, khi xác định thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án cần dựa vào hình phạt chính sau khi Tòa án tổng hợp, để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả khi áp dụng trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Chính vì vậy, nhằm mục đích làm rõ vướng mắc khi xác định thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì tác giả đề xuất sửa đổi khoản 1 Điều 73 BLHS năm 2015 theo hướng bổ sung quy định về căn cứ hình phạt chính trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án để xác định thời hạn xóa án tích, cụ thể là:

“Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Trường hợp người phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính sau khi tổng hợp trong bản án”

Hai là, nhằm mục đích tạo sự đồng bộ trong quy định và đạt được ý nghĩa của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, tác giả đề xuất sửa đổi Điều 89 BLHS năm 2015 theo hướng loại trừ hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn sẽ không đưa vào trường hợp xóa án tích, cụ thể là:

“Điều 89. Xóa án tích

Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn; hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.”

Trên đây là quan điểm cá nhân, mong nhận được sự chia sẻ từ đồng nghiệp và những người quan tâm.

 

 

 

 

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông báo
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUYẾT ĐỊNH THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ MẤT TÍCH ĐỐI VỚI BÀ ĐÕ THỊ KIM LOAN, SINH NĂM 1980
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUYẾT ĐỊNH THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ ĐỐI VỚI ÔNG PHAN TẤN QUÝ, SINH NĂM 1961 VÀ BÀ CAO THỊ MỸ DUNG, SINH NĂM 1963.
video clip

The player will show in this paragraph

  

Hình ảnh hoạt động