Thông tin chung

 

LƯỢT NGƯỜI TRUY CẬP
08724329
Diễn đàn pháp luật
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỪ GÓC ĐỘ XÉT XỬ .

Điều 74 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.” Hiến pháp năm 2013 tái khẳng định khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, là phương thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát và thực hiện quyền làm chủ của mình đối với đất nước. (Vũ Kim Thoa và Lê Ngọc Tú Quyên - Toà HC).

Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong đó, “quyết định hành chính là văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Quy định này về cơ bản là giống với định nghĩa quyết định hành chính tại Khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2010. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến quyết định giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước và thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính liên quan đến loại quyết định này.


I. Giải quyết khiếu nại và quyết định giải quyết khiếu nại
Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại quy định: “giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại”. Như vậy giải quyết khiếu nại là hoạt động kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội.
Luật Khiếu nại cũng có quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung: Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ; giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có); quyền khiếu nại tiếp hoặc quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Đối với việc giải quyết khiếu nại lần hai, Luật Khiếu nại quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần hai tương tự như quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu về hình thức, nhưng về kết luận nội dung khiếu nại thì Luật Khiếu nại quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các nội dung như sau: “Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính”.
Những quy định trên cho thấy việc giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền không phải bằng những hình thức khác như công văn hay thông báo mà phải bằng hình thức quyết định và kết luận nội dung khiếu nại cũng phải rõ ràng (kết luận nội dung khiếu nại tại quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu khác so với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai).


II. Quyết định giải quyết khiếu nại là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thực tiễn xét xử tại Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

 

Theo Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, trừ:
(i) Quyết định mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
(ii) Quyết định hành chính nằm trong Danh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo Nghị định 49/2012/NĐ-CP ngày 04/6/2012 của Chính phủ.
(iii) Quyết định tổng thể không có danh sách kèm theo hoặc không có văn bản quy định chi tiết đối với từng hộ, cá nhân có ảnh hưởng quyền lợi, nghĩa vụ. Trong trường hợp quyết định mang tính tổng thể nhưng có danh sách kèm theo hoặc có bản quy định chi tiết đối với từng hộ gia đình, cá nhân kèm theo, qua đó xác định được cụ thể quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình như thế nào thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với phần xác định cụ thể đó.
(iv) Quyết định giải quyết khiếu nại của cấp trên có nội dung giữ nguyên quyết định bị khiếu nại của cấp dưới.
Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung điểm b Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 quy định về đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các: “Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại có nội dung giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính được hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này”.
Như vậy từ ngày 01/3/2015, các quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung giữ nguyên quyết định bị khiếu nại cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Có nhiều trường hợp, khi giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền đã giải quyết bằng hình thức công văn, thông báo …, không bằng hình thức quyết định theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Luật Khiếu nại, gây khó khăn cho công dân khi khởi kiện vụ án hành chính. Tòa án cũng gặp trở ngại với việc xác định văn bản trả lời khiếu nại có phải là đối tượng khởi kiện theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính 2010.
Bên cạnh đó nhiều trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã gửi thông báo từ chối giải quyết khiếu nại mặc dù việc khiếu nại là đúng quy định của pháp luật. Có trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức có đơn khiếu nại đúng quy định của pháp luật, nhưng khiếu nại không được người có thẩm quyền giải quyết.
Có trường hợp chậm giải quyết khiếu nại dẫn đến việc hết thời hiệu khởi kiện của đương sự.


Để tháo gỡ vướng mắc nêu trên, ngày 19/9/2016, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Văn bản số 02/GĐ-TANDTC giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính. Tại mục 7 của văn bản này có giải đáp: “Trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã giải quyết khiếu nại nhưng không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà dưới hình thức khác (như thông báo, kết luận, công văn v.v...) và văn bản đó đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì văn bản đó là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.” Mục 7 của văn bản này cũng xác định trường hợp người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhận được đơn khiếu nại đối với quyết định hành chính nhưng không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại thì hành vi không giải quyết khiếu nại cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Thiết nghĩ, Luật Khiếu nại đã xác định rõ việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại và không có quy định nào gây nhầm lẫn quyết định giải quyết khiếu nại với các loại văn bản hành chính khác. Do đó việc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ban hành một văn bản sai hình thức hoặc không giải quyết khiếu nại hoặc chậm giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại và Tòa án cũng khó khăn trong việc xác định đối tượng khởi kiện vụ án tại Tòa án. Từ góc nhìn của những người làm công tác xét xử, chúng tôi đề xuất khi giải quyết khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần lưu ý hình thức văn bản giải quyết khiếu nại – phải là quyết định theo Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại. Bên cạnh đó, việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cần tuân thủ trình tự thủ tục theo quy định của Luật Khiếu nại, xác định đúng thẩm quyền giải quyết khiếu nại, có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đúng thời hạn pháp luật quy định theo Điều 5 Luật Khiếu nại. Từ đó góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thụ lý, xét xử các vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân.


 



 




 

Thực tiễn xét xử tại Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy trong tổng số các vụ án khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước chỉ có 9,28% trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, hủy quyết định giải quyết khiếu nại. Trong đó, một số căn cứ hủy quyết định là:
(a) Xác định không đúng chủ thể ban hành quyết định, nhầm lẫn thẩm quyền ban hành quyết định của cơ quan hành chính nhà nước và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, một trường hợp điển hình là Ủy ban nhân dân ban hành quyết định giải quyết khiếu nại trong khi thẩm quyền thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

(b) Giải quyết những vụ việc không thuộc thẩm quyền, ví dụ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp mà Luật Đất đai quy định phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
(c) Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không theo đúng trình tự, thủ tục luật định; v.v…

 

 

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông báo
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÔNG BÁO ĐỐI VỚI BÀ HOÀNG PHƯƠNG TRANG, SINH NĂM 1971.
  TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUYẾT ĐỊNH THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI BỊ YÊU CẦU TUYÊN BỐ LÀ ĐÃ CHẾT ĐỐI VỚI ÔNG LÂM HINH.
video clip

The player will show in this paragraph

  

Hình ảnh hoạt động